CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TỈNH NGHỆ AN – CẦN KHƠI THÔNG ĐIỂM NGHẼN ĐỂ ĐẠT HIỆU QUẢ CAO NHẤT!

Thứ bảy - 07/02/2026 10:17 4 0
Tỉnh Nghệ An đang thực hiện những mục tiêu rất lớn cho sự phát triển trong nhiệm kỳ 2025-2030, trong đó, có mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, Nghệ An trở thành tỉnh khá của cả nước, cực tăng trưởng tầm quốc gia; là trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ trên một số lĩnh vực quan trọng như công nghiệp và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, thương mại, logistics, du lịch. Để đạt mục tiêu đó, Đại hội XX Đảng bộ tỉnh cũng xác định một trong những giải pháp quan trọng là thúc đẩy chuyển đổi số.
Những kết quả quan trọng
Chuyển đổi số không chỉ được đề ra từ nhiệm kỳ Đại hội XX mà đã được quan tâm lãnh đạo từ nhiệm kỳ Đại hội XIX. Ban chấp hành Đảng bộ khóa XIX đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 05/8/2022 về chuyển đổi số tỉnh Nghệ An đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với những mục tiêu và lộ trình rất cụ thể, trên cơ sở đó các ban, sở, ngành, địa phương đã tham mưu cho tỉnh cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch, đề án tổ chức thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng, trong đó, nổi bật là:
Thứ nhất, nhận thức về vai trò và yêu cầu của chuyển đổi số trong cấp ủy, chính quyền cũng như các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng cao. Chuyển đổi số trở thành nhiệm vụ thường xuyên, được các cấp, ngành quan tâm đưa vào chương trình công tác hàng năm, xây dựng kế hoạch riêng để tổ chức thực hiện. Công tác tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy cơ quan hành chính được quan tâm. Công tác đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ chuyển đổi số được quan tâm và thực hiện quyết liệt. 100% cán bộ, công chức, viên chức tại các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp; Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội; UBND cấp huyện (cũ); UBND cấp xã; Tổ công nghệ số cộng đồng cấp phường, xã và cấp thôn, bản trên địa bàn tỉnh tham gia, hoàn thành các chương trình tập huấn.
Thứ hai, chỉ số chuyển đổi số từ năm 2022 đến 2024 tăng đều hàng năm (2022: xếp 52/63 tỉnh/thành; 2023 xếp 42/63 tỉnh/thành; năm 2024 xếp thứ 13/34 tỉnh/thành phố (mới) và xếp thứ 27/63 tỉnh/thành phố (cũ), hoàn thành mục tiêu theo Nghị quyết số 09-NQ/TU của Tỉnh ủy về chuyển đổi số tỉnh Nghệ An đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (mục tiêu xếp thứ 25-30 tỉnh/thành phố). Kinh tế số năm 2024 đứng thứ 1 khu vực Bắc Trung bộ, đứng thứ 15 toàn quốc (đạt tỷ lệ 9,05% GRDP của tỉnh).
Thứ ba, hạ tầng số phát triển rộng khắp với 99,97% dân số đã được phủ sóng thông tin di động; xấp xỉ 70% hộ gia đình được kết nối internet cáp quang; các nền tảng số phục vụ xây dựng chính quyền số vận hành ổn định, an toàn, nâng cấp thường xuyên phục vụ thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; an toàn thông tin mạng được đảm bảo; việc triển khai Đề án 06/CP về phát triển cơ sở dữ liệu về dân cư được triển khai mạnh mẽ, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước; cung cấp dịch vụ công trực tuyến có bước phát triển vượt bậc, thuộc nhóm các tỉnh phát triển nhanh nhất sau khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành.
Những điểm nghẽn cản trở tiến trình chuyển đổi số của Nghệ An
Tuy vậy, Nghệ An vẫn còn những điểm nghẽn cản trở tiến trình chuyển đổi số, đó là:
(1) Hệ thống văn bản pháp luật về chuyển đổi số chưa hoàn thiện, nhất là các văn bản hướng dẫn định mức kinh tế-kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật các hệ thống thông tin, dữ liệu, kết nối chưa được nhiều bộ ngành ban hành. Do đó, quá trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án, nhiệm vụ về KHCN, chuyển đổi số còn gặp nhiều khó khăn; đồng thời, do thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cho nên khó đồng bộ, kết nối liên thông các hệ thống thông tin sau khi xây dựng.
(2) Kinh phí chi cho chuyển đổi số chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ do ngân sách tỉnh còn hạn chế, nhất là đầu tư cho hạ tầng số cơ quan nhà nước, trong đó có cấp xã.
(3) Hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ: Nhiều địa phương, đặc biệt ở cấp xã đang sử dụng thiết bị cũ kỹ, hết khấu hao, không đảm bảo vận hành các nền tảng số, hệ thống thông tin ngày càng “nặng”.
(4) Cơ sở dữ liệu chuyên ngành xây dựng còn chậm do thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, ảnh hưởng đến việc xây dựng chính quyền số, phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu.
(5) Kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin phục vụ giải quyết thủ tục hành chính vẫn chưa được khắc phục triệt để, như giữa Hệ thống đăng ký hộ kinh doanh, hợp tác xã và Cổng Dịch vụ công quốc gia về đăng ký doanh nghiệp do Bộ Tài chính quản lý, ảnh hưởng đến trải nghiệm sử dụng dịch vụ của người dân, doanh nghiệp.
(6) Hạ tầng viễn thông và internet ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu vững chắc, vẫn còn các khu vực có dân cư sinh sống chưa được phủ sóng thông tin di động.
(7) Nguồn nhân lực số, nhất là nhân lực chất lượng cao còn rất thiếu và yếu, nhất là đội ngũ được trang bị chuyên môn, có kỹ năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, địa phương tổ chức triển khai chuyển đổi số trong ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị.
(8) Kỹ năng số của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, nhất là việc sử dụng các thiết bị đầu cuối, các phần mềm ứng dụng trong thực hiện các giao dịch trên nền tảng số.
Nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới
Những điểm nghẽn trên đây đã và đang là lực cản lớn đối với việc thực hiện tiến trình chuyển đổi số của tỉnh, theo đó, tác động không nhỏ đến việc cụ thể hóa các mục tiêu đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, hiện đại và hiệu quả; nâng cao năng lực của bộ máy hành chính – quản trị của chính quyền địa phương. Việc khắc phục khó khăn, khơi thông điểm nghẽn để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số trong toàn tỉnh trở thành một vấn đề rất lớn, phải được tiến hành một cách đồng bộ, quyết liệt với nguồn lực không nhỏ. Trong điều kiện tỉnh Nghệ An hiện nay, với diện tích lớn, địa hình phức tạp, nguồn lực còn khiêm tốn, trình độ khoa học – công nghệ của doanh nghiệp cũng như các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị còn chưa thực sự phát triển, thì việc giải bài toán này gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó, tỉnh Nghệ An đã đặt ra quyết tâm lớn để hoàn thành mục tiêu chuyển đổi số, trong đó, có những giải pháp có tính đột phá như sau[1]:
1. Tháo gỡ các điểm nghẽn thuộc phạm vi địa phương gồm:
- Nhanh chóng cụ thể hóa hệ thống văn bản của Trung ương được ban hành theo hướng “rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ người chịu trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả, rõ nguồn lực”, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
- Bố trí đủ kinh phí cho chuyển đổi số, trong đó lưu ý không dàn trải, tập trung các nhiệm vụ có sức lan tỏa lớn, tác động sâu rộng đến xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, xã hội số và dịch vụ đô thị thông minh.
- Bố trí nguồn kinh phí để đầu tư, nâng cấp hạ tầng số cho cơ quan nhà nước bảo đảm đồng bộ, kết nối, an toàn thông tin; trang bị các thiết bị đầu cuối đầy đủ, đủ mạnh để vận hành, khai thác các nền tảng số, hệ thống thông tin.
- Chủ động lập dự án, nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành bảo đảm đúng tiến độ Trung ương giao tại Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ ban hành kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện.
- Hoàn thành rà soát vùng lõm sóng di động, chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông ưu tiên xây dựng, mở rộng hạ tầng viễn thông và internet ở vùng sâu, vùng xa, bảo đảm mục tiêu phủ sóng theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng chính sách thu hút nguồn nhân lực số, nhất là nhân lực chất lượng cao. Trước mắt, tập trung bồi dưỡng cho các xã, phường đủ năng lực quản trị và vận hành các hệ thống thông tin, phục vụ người dân, doanh nghiệp theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
2- Các nhóm nhiệm vụ trong tâm:
- Về nhận thức: Tiếp tục làm tốt công tác quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đối với cán bộ đảng viên và Nhân dân, trọng tâm là Nghị quyết số 57-NQ/TW. Cùng với KHCN, chuyển đổi số phải được đưa vào chương trình công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị, địa phương. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về kết quả triển khai thực hiện của cơ quan, đơn vị.
- Về thể chế: Tiếp tục rà soát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; các chương trình, đề án, dự án đã được phê duyệt có liên quan nhằm kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với tiến độ ban hành văn bản của Trung ương và các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo các kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh.
- Về phát triển nguồn nhân lực: Tiếp tục xây dựng kế hoạch đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số cho 04 nhóm đối tượng theo Kế hoạch phát động phong trào Bình dân học vụ số của tỉnh, gồm: cán bộ công chức viên chức; học sinh, sinh viên; người lao động và người dân. Nghiên cứu cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về chuyển đổi số.
- Về hạ tầng số: Xây dựng kế hoạch phát triển hạ tầng số giai đoạn 2026 2030 bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển hạ tầng số quốc gia (theo Quyết định số 1132/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) và bảo đảm các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW. Đẩy nhanh số hóa hồ sơ, tài liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu để sử dụng lại các lĩnh vực trọng điểm phục vụ xây dựng chính quyền số, đô thị thông minh.
- Về các nền tảng số: Đẩy mạnh khai thác hiệu quả các hệ thống thông tin dùng chung hiện có để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, tránh lãng phí; đồng thời, rà soát, xây dựng hoặc nâng cấp các hệ thống thông tin phù hợp với Quyết định số 2681/QĐ-BKHCN ngày 11/9/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành danh mục và kế hoạch triển khai các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực, vùng.
- Về xây dựng Chính quyền số: Xây dựng kế hoạch xây dựng Chính quyền số phù hợp với Chương trình phát triển Chính phủ số của Trung ương (đang giao Bộ KHCN dự thảo xây dựng).
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế số - xã hội số giai đoạn 2026 2030 phù hợp với hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ về Chương trình phát triển kinh tế số - xã hội số đến năm 2030.
- Rà soát các hệ thống thông tin cơ quan nhà nước, tổ chức khắc phục các lỗ hổng bảo mật; bảo đảm 100% các hệ thống thông tin cơ quan nhà nước được phê duyệt hồ sơ cấp độ an toàn thông tin và triển khai các biện pháp bảo vệ an toàn thông tin theo hồ sơ cấp độ được phê duyệt. Đẩy mạnh đào tạo nhân lực về an toàn thông tin mạng. Tăng cường truyền thông, hướng dẫn, cảnh báo người dân trước các nguy cơ mất an toàn thông tin, an ninh mạng./.
 

[1] Theo Báo cáo Số: 2891/BC-SKHCN, ngày 14/11/2025 của Sở Khoa học và Công nghệ về “công tác chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp trong thời gian tới” trình Kỳ họp  HĐND tỉnh cuối năm 2025.

Tác giả bài viết: TH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây