Sử dụng chế phẩm sinh học sản xuất phân hữu cơ từ cây bèo tây tại Nghệ An

Thứ ba - 05/05/2026 08:49 3 0
Bèo tây, từng bị xem là “cây cản trở nông nghiệp”, nay có thể trở thành nguồn tài nguyên quý giá cho đất trồng. Nhờ chế phẩm sinh học, chúng ta có thể biến bèo tây thành phân hữu cơ giàu dinh dưỡng, góp phần cải thiện đất, tăng năng suất và xây dựng nông nghiệp bền vững. Đây chính là bí quyết xanh giúp biến thách thức môi trường thành cơ hội phát triển nông nghiệp thông minh.
Sử dụng chế phẩm sinh học sản xuất phân hữu cơ từ cây bèo tây tại Nghệ An
Giải pháp hữu hiệu thúc đẩy nông nghiệp bền vững
Nghệ An là một trong những tỉnh có diện tích mặt nước lớn, với hệ thống sông, hồ, đầm rộng rãi, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của bèo tây (Eichhornia crassipes). Tuy nhiên, sự phát triển quá mức của loài thực vật này lại gây ra nhiều thách thức về quản lý thủy lợi, cản trở hoạt động nông nghiệp, làm giảm khả năng vận chuyển nước và ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài thủy sinh khác. Truyền thống, người dân thường thu gom bèo tây để đốt hoặc vứt bỏ, vừa tốn công sức, vừa lãng phí nguồn tài nguyên quý giá.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học để sản xuất phân hữu cơ từ bèo tây trở thành một giải pháp vừa xử lý môi trường, vừa tạo ra nguồn phân bón hữu cơ giàu dinh dưỡng, góp phần cải thiện độ phì nhiêu của đất, nâng cao năng suất cây trồng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững tại Nghệ An. Ngoài ra, giải pháp này còn mở ra cơ hội kinh tế mới cho nông dân, từ việc chuyển đổi một loài thực vật “phiền toái” thành nguồn nguyên liệu có giá trị, đồng thời giảm phụ thuộc vào phân hóa học, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.
Bèo tây dày đặc trên kênh mương Thọ Sơn (huyện Nghi Lộc cũ) ngăn cản dòng chảy, ảnh hưởng đến trạm bơm phục vụ tưới 600 ha lúa vụ Xuân

Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học & Công nghệ, Sở KH&CN Nghệ An đã nghiên cứu và sản xuất dòng chế phẩm sinh học “Compost Maker”, chuyên dùng để ủ phế phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, rác thải hữu cơ và bèo tây thành phân hữu cơ vi sinh. Theo tính toán kỹ thuật, mỗi 1 gói Compost Maker 2kg có thể ủ thành công khoảng 1 tấn nguyên liệu bèo tây, tạo ra một lượng phân hữu cơ chất lượng cao, giàu mùn và vi sinh vật có lợi cho đất. Điều này cho phép chuyển hóa một khối lượng lớn nguyên liệu vô giá trị và gây phiền toái thành sản phẩm có giá trị sinh thái và nông nghiệp.
Nếu xem xét tình hình thực tế ở Nghệ An, nơi bèo tây phủ kín nhiều sông, kênh mương với khối lượng nguyên liệu ước tính dồi dào (từ đa dạng nguồn như kênh Thọ Sơn - Chợ Cầu, sông Bàu Chèn hay các tuyến kênh nội đồng khác), thì nếu thu gom và ủ toàn bộ 10.000 tấn bèo tây (một con số mang tính dự báo hợp lý cho một tỉnh có nhiều tuyến kênh bị ảnh hưởng) sẽ cần khoảng 20.000kg chế phẩm Compost Maker (khoảng 10.000 gói 2kg). Với năng suất này, có thể tạo ra 10.000 tấn phân hữu cơ vi sinh cuối cùng để sử dụng trên đồng ruộng, vườn cây ăn trái, rau màu hoặc trồng rừng - một lượng phân tương đương với hàng nghìn ha đất nông nghiệp được bón bổ chất hữu cơ.
 
Sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ cây bèo tây

Về hiệu quả kinh tế, nếu quy đổi theo giá bán phân hữu cơ trên thị trường (chẳng hạn phân vi sinh có thể bán ở mức từ 3.000-5.000 đồng/kg tùy chất lượng và thị trường), 10.000 tấn phân hữu cơ này có thể đem lại doanh thu từ 30-50 tỷ đồng. Đồng thời, giá trị kinh tế gia tăng không chỉ đến từ việc bán phân, mà còn nằm ở việc giảm chi phí quản lý và xử lý bèo tây bằng cơ giới, giảm sử dụng phân hóa học, và cải thiện năng suất đất trồng nhờ lượng mùn và dinh dưỡng bền vững được bổ sung vào đất - kết quả là tăng năng suất cây trồng và giảm chi phí đầu vào lâu dài cho nông dân.
Thêm vào đó, việc sử dụng Compost Maker giúp rút ngắn thời gian ủ, tăng hiệu quả phân hủy vi sinh, giảm mùi hôi, và hạn chế phát tán các khí độc hại hay nguồn ô nhiễm theo dòng nước - những yếu tố vẫn thường kèm theo khi bèo tây phân hủy tự nhiên trong ao hồ hoặc kênh mương. Chính vì vậy, chuyển hóa bèo tây thành phân hữu cơ không chỉ là giải pháp xử lý “mạnh tay” với cây gây hại này, mà còn là một hướng đi bền vững, hòa hợp với mục tiêu nông nghiệp sinh thái và phát triển kinh tế nông thôn tại Nghệ An.
Khó khăn và giải pháp
Mặc dù có tiềm năng lớn, việc triển khai sản xuất phân hữu cơ từ bèo tây tại Nghệ An vẫn gặp nhiều khó khăn. Trước hết là vấn đề thu gom và vận chuyển, do bèo phân bố rộng và khó tiếp cận, đòi hỏi nhiều nhân lực và chi phí.
Thứ hai, chất lượng nguyên liệu không đồng đều, có thể lẫn bùn đất và rác thải, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nếu không xử lý tốt. Điều kiện khí hậu nóng ẩm cũng ảnh hưởng đến quá trình ủ nếu không kiểm soát chặt chẽ.
Thứ ba, chi phí đầu tư ban đầu cho chế phẩm, thiết bị và cơ sở hạ tầng còn cao, trong khi lợi nhuận chưa thu hồi ngay, khiến nhiều hộ nông dân e ngại.
Ngoài ra, trình độ kỹ thuật của người dân còn hạn chế, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng đúng quy trình. Thị trường tiêu thụ phân hữu cơ cũng chưa phát triển mạnh, gây trở ngại trong việc mở rộng sản xuất.
Để triển khai hiệu quả, cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần tổ chức thu gom bèo tây hợp lý, bố trí điểm tập kết gần khu vực sản xuất và sử dụng máy móc chuyên dụng để giảm chi phí.
Bên cạnh đó, cần áp dụng quy trình ủ chuẩn với chế phẩm sinh học, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ và tỷ lệ phối trộn nhằm đảm bảo chất lượng phân hữu cơ.
Việc đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân là rất quan trọng, thông qua các lớp tập huấn và mô hình trình diễn. Đồng thời, cần xây dựng liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân để đảm bảo đầu ra sản phẩm.
Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ từ Nhà nước như ưu đãi vốn, hỗ trợ tiêu thụ và khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ. Việc triển khai thí điểm ở quy mô nhỏ trước khi nhân rộng sẽ giúp đảm bảo tính khả thi và hiệu quả./

Nguồn tin: ngheandost.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây