Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt cho phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc xây dựng và phát triển hệ sinh thái sở hữu trí tuệ hiệu quả được xem là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược.
Thực tiễn cho thấy, mọi kết quả nghiên cứu khoa học, giải pháp kỹ thuật, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hay chỉ dẫn địa lý đều có nguy cơ bị sao chép, khai thác trái phép nếu không được bảo hộ phù hợp.
Khi quyền sở hữu trí tuệ được xác lập và bảo vệ hiệu quả, các nhà khoa học, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu có thể yên tâm đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Đây chính là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình sáng tạo, hình thành các công nghệ mới, sản phẩm mới và mô hình kinh doanh mới.
Không chỉ dừng lại ở vai trò bảo vệ, sở hữu trí tuệ còn là công cụ tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp trên thế giới hiện nay có giá trị tài sản vô hình lớn hơn nhiều lần tài sản hữu hình, trong đó phần lớn đến từ sáng chế, thương hiệu và các tài sản trí tuệ khác.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, sở hữu trí tuệ đang trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.
Một trong những hạn chế từng được chỉ ra trong hoạt động khoa học và công nghệ là nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa hiệu quả, chưa tạo ra giá trị kinh tế tương xứng với tiềm năng.
Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ hạn chế về nguồn lực tài chính hay thị trường mà còn liên quan đến nhận thức và năng lực quản lý tài sản trí tuệ.
Một công trình nghiên cứu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được bảo hộ và khai thác hiệu quả trên thị trường. Sáng chế được cấp bằng độc quyền có thể trở thành cơ sở để chuyển giao công nghệ; nhãn hiệu được bảo hộ có thể trở thành thương hiệu mạnh; chỉ dẫn địa lý có thể nâng cao giá trị sản phẩm đặc sản địa phương.
Chính vì vậy, phát triển hệ sinh thái sở hữu trí tuệ chính là tạo cầu nối giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, kinh doanh và thị trường.
Đối với Nghệ An, sở hữu trí tuệ không chỉ gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học mà còn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương.
Nhiều sản phẩm đặc sản, sản phẩm OCOP của tỉnh đã và đang được xây dựng, bảo hộ và phát triển thương hiệu dựa trên nền tảng sở hữu trí tuệ. Việc đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý hay truy xuất nguồn gốc giúp nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc bảo vệ và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ sẽ giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ thể OCOP nâng cao giá trị sản phẩm, gia tăng thu nhập và phát triển bền vững.
Một hệ sinh thái sở hữu trí tuệ muốn vận hành hiệu quả cần có đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, am hiểu pháp luật và có khả năng tư vấn, hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xác lập, bảo vệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Đây cũng là lý do thời gian qua Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các địa phương liên tục hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và xây dựng cơ chế phát triển nguồn nhân lực sở hữu trí tuệ.
Việc UBND tỉnh Nghệ An công bố thủ tục hành chính mới về “Công nhận cơ sở đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp” là bước đi quan trọng nhằm chuẩn hóa hoạt động đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Thông qua việc hình thành các cơ sở đào tạo đáp ứng điều kiện theo quy định, hệ thống sở hữu trí tuệ sẽ có thêm đội ngũ chuyên gia, tư vấn viên và cán bộ quản lý được đào tạo bài bản, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp.
Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, sở hữu trí tuệ được xem là một cấu phần quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Những cải cách gần đây trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, từ việc đơn giản hóa thủ tục hành chính đến việc chuẩn hóa hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đang góp phần tạo môi trường thuận lợi hơn cho các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và thương mại hóa công nghệ.
Đây không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn là bước đi quan trọng nhằm khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm, công nghệ và tài sản trí tuệ có giá trị.
Trong thời đại kinh tế số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sở hữu trí tuệ không còn là vấn đề riêng của các nhà khoa học hay cơ quan quản lý mà đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi địa phương, doanh nghiệp và quốc gia.
Việc xây dựng hệ sinh thái sở hữu trí tuệ hiện đại, hiệu quả sẽ góp phần bảo vệ thành quả sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nâng cao giá trị sản phẩm và hình thành các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đó cũng chính là con đường để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị./.
Ý kiến bạn đọc
Nghệ An ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam
Chủ tịch Nghệ An phê bình 4 sở, ban ngành và hàng chục địa phương giải ngân vốn đầu tư công chưa tốt
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội quý III/2026
Nghệ An thúc khai thác dữ liệu, gắn chuyển đổi số với tăng trưởng kinh tế
Gần 1.000 thí sinh tranh tài tại Vòng Khu vực Cuộc thi Sáng tạo Robotics 2026
Kết nối hạ tầng chiến lược Việt Nam-Lào-Campuchia trong bối cảnh mới
Kỷ nguyên mới đòi hỏi nghĩ xa, quyết định đúng, hành động hiệu quả, trách nhiệm đến cùng
QTDND chuyển mình trong dòng chảy số
Nghệ An ban hành quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đến năm 2030
Nghệ An: Vượt lũ trong đêm đưa bệnh nhân đi cấp cứu