Tác phẩm “Người thầy đầu tiên” và phong trào xóa mù chữ để phục vụ sự nghiệp nâng cao dân trí

Thứ bảy - 29/11/2025 06:21 2 0
Ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu

Tác phẩm “Người thầy đầu tiên” của nhà văn Liên Xô Chingiz Aitmatov viết về Dyuyshen, một người lính Hồng quân phục viên và là một người Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản, được Chính quyền Xô Viết cử về mở trường dạy học ở làng Kurkureu.
Phong trào xóa mù chữ ở Liên Xô
Trên thực tế, phong trào chống nạn mù chữ rất được Nhà nước Xô Viết coi trọng. Chính quyền các cấp ở Liên Xô đều nêu cao khẩu hiệu: “Người biết chữ hãy dạy cho người chưa biết chữ!”.
Trong phiên họp đầu tiên của Đại hội III toàn Nga của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga (họp từ ngày 2 đến ngày 10/10/1920), V.I.Lênin đã đến dự và đọc bài viết: “Nhiệm vụ của đoàn thanh niên”. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Các đồng chí đều biết rằng không thể xây dựng một xã hội cộng sản trong một nước có những người mù chữ… Chủ nghĩa cộng sản là ở chỗ các nam nữ thanh niên thuộc đoàn thanh niên tự nhủ rằng: đây là công việc của chúng tôi, chúng tôi sẽ tập hợp nhau lại và chúng tôi sẽ về nông thôn thanh toán nạn mù chữ để cho thế hệ đang lên không còn có người mù chữ nữa”.
Trên tinh thần của cuộc chiến chống nạn mù chữ, tác phẩm “Người thầy đầu tiên” của nhà văn Liên Xô Chingiz Aitmatov lấy bối cảnh của làng Kurkureu – tượng trưng cho một vùng quê hẻo lánh và lạc hậu Liên Xô của những năm 1920.
Trong làng Kurkureu có cô gái Altynai lúc đó 15 tuổi mồ côi và luôn bị chú thím độc ác bóc lột sức lao động và ngược đãi.
Sau này, nhờ thầy Dyuyshen (một người lính Hồng quân phục viên và là một người thanh niên cộng sản được Chính quyền Xôviết cử về mở trường dạy học ở làng Kurkureu), Altynai được biết chữ và lên thành phố học tập. Altynai sau đó trở thành nữ viện sĩ.
Năm 1946, Altynai trở về làng Kurkureu, đặt tên cho ngôi trường mà cô đỡ đầu là “Trường Dyuyshen” - ngôi trường mang tên người thầy đầu tiên của mình.
Trong bài “Giáo dục phổ thông ở Liên Xô” (Báo Nhân Dân, số 454, ngày 31/5/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Năm 1930, số người mù chữ còn 10% và Người nhấn mạnh: “Hiện nay, từ các trẻ em 8 tuổi trở lên, ai cũng biết chữ”.
Việc càng nhiều người dân biết chữ sẽ khiến trình độ dân trí ngày càng được nâng cao. Bởi người dân sẽ có nền tảng để học lên những cấp học cao hơn.
Vào đầu những năm 1980, cứ 5 người lao động ở Liên Xô thì có 1 người tốt nghiệp đại học hoặc các trường kỹ thuật. Số sinh viên của Liên Xô lớn gấp 2 lần số sinh viên của 15 nước châu Âu cộng lại.
Theo số liệu năm 2015, trong số 781 triệu người mù chữ trên thế giới có 2/3 là nữ giới. Thế giới còn có khoảng 58 triệu trẻ mù chữ và 100 triệu trẻ em không hoàn thành bậc tiểu học.
Tiếp thu và phát huy kinh nghiệm của Liên Xô
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp bởi chúng đã “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” và “thi hành chính sách ngu dân”.
Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ “chính sách ngu dân” là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị nước ta. Người cho biết hơn 90% người dân Việt Nam mù chữ và do đó Người đã đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.
Ngày 8/9/1945, Chính phủ cách mạng lâm thời ban hành liền ba sắc lệnh số 17, 19 và 20, trong đó, Sắc lệnh số 17/SL về thành lập Nha Bình dân học vụ và cử Giám đốc Bình dân học vụ; Sắc lệnh 19/SL có quy định trong thời hạn 6 tháng, các làng và các đô thị phải có ít nhất một lớp học với ít nhất 30 người học; Sắc lệnh số 20/SL có quy định về việc học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người.
Sau đó, ngày 4/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Chống nạn thất học” gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào. Người viết: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”[1].
Vào tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ. Người nêu rõ:
“Anh, chị em yêu quý,
Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ăn, có mặc, có học.
Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là:
1. Tăng gia sản xuất.
2. Chống nạn mù chữ.
Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc.
Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em…
Tôi mong rằng trong một thời kỳ rất ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang, đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng.
Tôi lại mong rằng đồng bào các nơi ra sức giúp cho anh chị em bình dân học vụ trong công việc giáo dục đó.
Tôi gửi lời chào thân ái và chúc anh chị em thành công”[2].
Với phong trào Bình dân học vụ, trên 2,5 triệu người đã biết đọc, biết viết (ước tính cả nước lúc đó có 22 triệu người). Tiếp đó, những lớp bổ túc văn hóa đã xóa mù chữ cho 8 triệu người dân trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954).
Năm năm sau, vào năm 1959, tất cả các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng trung du miền Bắc đều hoàn thành nhiệm vụ xóa mù chữ cho Nhân dân ở độ tuổi 12-50. Kết thúc kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961-1965), các vùng thấp thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc đã xóa xong nạn mù chữ cho nhân dân các dân tộc thiểu số.
Ngày 21/12/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào một số địa phương đã thanh toán xong nạn mù chữ​. Người chỉ rõ: “Thanh toán nạn mù chữ là bước đầu nâng cao trình độ văn hóa. Trình độ văn hóa của Nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của Nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta trở thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
Tại miền Nam, đến năm 1975, 30% người dân vẫn mù chữ. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, trong Chỉ thị 221 ngày 17/6/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Trước mắt, phải coi đây (xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa) là nhiệm vụ cấp thiết số một”. Kinh nghiệm thực tiễn xóa mù chữ ở miền Bắc đã trở thành những bài học quý báu, bổ ích cho công cuộc xóa nạn mù chữ ở miền Nam ngay sau ngày giải phóng, đất nước thống nhất. Cuối tháng 2/1978, toàn bộ 21 tỉnh, thành phố ở miền Nam đã cơ bản thanh toán nạn mù chữ.
Đầu những năm 1980, nền giáo dục Việt Nam có khoảng 500 trường bổ túc văn hóa nhằm bổ túc kiến thức cho lao động phổ thông, cho công nhân ở các nhà máy, cho thanh thiếu niên người khắp cả nước… Năm 1989, Việt Nam thành lập Ủy ban Quốc gia chống nạn mù chữ để đẩy mạnh công tác xóa mù chữ.
Việt Nam là quốc gia thực hiện thành công mục tiêu thế giới bước vào thế kỷ XXI không còn nạn mù chữ do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) khuyến cáo và Liên hợp quốc phát động.
Không ngừng nâng cao dân trí
Trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (ngày 15/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã kêu gọi: “Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ được tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Kể từ đó, ngành giáo dục nước ta có những thành tựu đạt được ngày càng khả quan. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân đều “được đi học”[3]. Tiếp đó, Người cũng nhấn mạnh: Chế độ cộng sản là “ai cũng thông thái và có đạo đức”[4].
Trong sự nghiệp giáo dục nói chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến hiệu quả cuối cùng của việc dạy và học để sau này tổng kết thành câu nói “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Trong Thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc (tháng 3/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể đối với các thầy giáo, cô giáo: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy học là: chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà. Để làm trọn nhiệm vụ ấy, cán bộ giáo dục cần phải luôn luôn ra sức thi đua công tác và học tập, thật thà tự phê bình và phê bình để cùng nhau tiến bộ mãi”[5].
Ngày 23/3/1956, tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra yêu cầu và đề cao sứ mệnh vẻ vang của ngành giáo dục trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước: “Ta cần nhiều cán bộ các cấp. Các thầy giáo, cô giáo phải tìm cách dạy. Dạy cái gì, dạy thế nào để học trò hiểu chóng, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Dạy và học cần phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước. Thầy dạy tốt, trò học tốt, cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và văn hoá. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo”[6].
Trong buổi nói chuyện với lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, ngày 12/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các cô các chú có nhiệm vụ rất quan trọng: bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này. Làm tốt thì thế hệ sau này có ảnh hưởng tốt. Làm không tốt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau. Mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ Nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới”[7].
Tại lớp học chính trị của giáo viên (năm 1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các cô, các chú đều biết, giáo viên ngày nay không phải là “gõ đầu trẻ kiếm cơm”, mà là người phụ trách đào tạo những công dân tiến bộ, những cán bộ tiến bộ cho dân tộc. Nhiệm vụ ấy rất là vẻ vang. Các cô, các chú phải ngày càng tiến bộ để dạy cho con em ngày càng tiến bộ, nếu không thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến con em”[8].
Ngày 21/10/1964, trong buổi nói chuyện với các thầy giáo, cô giáo, sinh viên và cán bộ, nhân viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị”. Người nêu rõ: “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa”[9].
Ngày 16/10/1968, nhân dịp bước vào năm học mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư dặn dò nhiều điều đối với nền giáo dục nước nhà: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó. Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chǎm sóc nhà trường về mọi mặt, đưa sự nghiệp giáo dục của nước ta lên những bước phát triển mới”[10].
Vào năm học 1945-1946, chỉ tính riêng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đã có 5.654 trường tiểu học được mở, với 206.784 học sinh và 25 trường trung học, với 7.514 học sinh. Ở bậc đại học và cao đẳng, các trường Y khoa, Dược khoa, Cao đẳng Kỹ thuật, Cao đẳng Công chính, Cao đẳng Canh nông, Thú y được mở lại. Đồng thời, trường Đại học Văn khoa, lớp chính trị xã hội được mở thêm.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội (1955), mạng lưới giáo dục phổ thông bám rễ sâu tới từng thôn xã. Tính đến trước khi cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (1971) ở miền xuôi, xã nào cũng có 1 đến 2 trường cấp I, trung bình cứ 5 xã thì 4 xã có trường cấp II, huyện nào cũng có trường cấp III, có huyện có đến 2 trường như Nghệ An, Thái Bình.
Trong phong trào xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc đã xuất hiện những điển hình tiên tiến, tiêu biểu là lá cờ đầu Bắc Lý với phong trào thi đua hai tốt – dạy thật tốt, học thật tốt. Trường Phổ thông cấp II Bắc Lý (xã Chung Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) đã thực hiện nguyên lý giáo dục một cách sáng tạo theo tôn chỉ hoạt động “tất cả vì học sinh thân yêu”. Phát huy tinh thần của “tiếng trống Bắc Lý”, trên miền Bắc nhiều tỉnh đã xây dựng được các trường phổ thông tiên tiến xuất sắc như trường cấp I Hà Nhân (Thanh Hóa), trường cấp III Phủ Lý (Hà Nam), trường cấp III Chu Văn An (Hà Nội).
Đến năm 1975, miền Bắc đã có 41 trường, lớp, phân hiệu đại học (gấp 10,3 lần so với năm 1955). Hình thức đào tạo rất đa dạng: chính quy, tại chức, chuyên tu, mở lớp học đêm, học theo hình thức gửi thư, đào tạo quốc tế. Ngoài ra, các trường đại học đã xúc tiến nhanh việc cử cán bộ đi đào tạo và bồi dưỡng nghiên cứu sinh, thực tập sinh ở các nước xã hội chủ nghĩa. Đến năm 1965, miền Bắc đã có trên 500 cán bộ giảng dạy ra nước ngoài học tập (trong đó gần 50% là nghiên cứu sinh). Qua 20 năm (1955 – 1975), giáo dục đại học của miền Bắc đã đào tạo được hơn 8 vạn người có bằng đại học nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, ngày 18/11/2024 tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức gặp mặt các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Tổng Bí thư Tô Lâm đã đến dự và phát biểu chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là tương lai dân tộc; luôn luôn đặc biệt quan tâm chăm lo, có nhiều chủ trương, chính sách đầu tư cho giáo dục, xác định là đầu tư cho phát triển và ưu tiên, đi trước so với các lĩnh vực khác. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, giáo dục đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng đối với những kỳ tích phát triển của dân tộc.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm nhiệt liệt chúc mừng, biểu dương những thành tựu đã đạt được trong đổi mới giáo dục, đào tạo thời gian qua của toàn ngành giáo dục, của đội ngũ các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 chỉ rõ: Mục tiêu của Chiến lược nhằm phát triển giáo dục Việt Nam hiện đại, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn minh nhân loại, phát triển toàn diện con người Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên mới, chủ động tham gia và thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các tiến bộ mới nhất của khoa học và công nghệ; chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, tạo nền tảng cho việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc.
Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng chỉ rõ: Phát triển hệ thống giáo dục mở, đảm bảo công bằng và bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, phục vụ học tập suốt đời, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa, hội nhập quốc tế. Đến năm 2030, giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến của khu vực châu Á và đến năm 2045 đạt trình độ tiên tiến của thế giới.
Trong 80 năm từ ngày thành lập nước (1945-2025), ngành giáo dục nước ta có những thành tựu vượt bậc, góp phần đưa đất nước tiến lên hùng cường. Hiện nay, theo thống kê, năm học 2025-2026, giáo dục cả nước có gần 30 triệu học sinh, sinh viên. Tổng số thầy cô giáo là 1,7 triệu người.
Ngày 22/8/2025, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW). Nghị quyết số 71-NQ/TW nêu rõ về Tầm nhìn đến năm 2045: “Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng và chất lượng, đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới. Mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước, góp phần đưa Việt Nam thành nước phát triển, có thu nhập cao. Phấn đấu ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín”.
Nhấn mạnh vai trò của thầy giáo, cô giáo, Nghị quyết số 71-NQ/TW nêu rõ cần phải có nhiệm vụ, giải pháp sau: “Có chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 70% cho giáo viên, tối thiểu 30% cho nhân viên, 100% cho giáo viên ở khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng chính sách phù hợp để huy động được người giỏi ngoài lực lượng nhà giáo tham gia giảng dạy, huấn luyện trong các cơ sở giáo dục; thực hiện chế độ giảng viên đồng cơ hữu cho những người giỏi đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập; có cơ chế khuyến khích huy động người giỏi chủ trì các hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục”.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW cũng nêu rõ: “Có chính sách thu hút chuyên gia, người lao động tay nghề cao tham gia giảng dạy, hướng dẫn kỹ năng nghề”. Nghị quyết số 71-NQ/TW cũng nhấn mạnh: “Mở rộng các chương trình, đề án đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, tăng chế độ hỗ trợ cho giảng viên đi học nâng cao trình độ trong và ngoài nước. Xây dựng chương trình thu hút giảng viên xuất sắc từ nước ngoài với các ưu đãi vượt trội”.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và toàn diện của đất nước đã khẳng định việc chăm lo cho ngành giáo dục sẽ tạo ra nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 

[1] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 36
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 220
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 438
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập,  tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011,  tr. 294
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 571
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 138
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 184
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 489
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 332
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 403-404

Tác giả bài viết: Văn Toàn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây