LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH NGHỆ AN
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH NGHỆ AN
Tre đá – sức sống mới cho núi rừng Nghệ An
Thứ năm - 07/05/2026 09:17140
Hình 1. Tre bản địa được trồng và khai thác tại Tương Dương, tỉnh Nghệ An (Nguồn: Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)
Tre đá đang thắp sức sống mới cho núi rừng Nghệ An. Không chỉ xanh hóa môi trường, nó còn mở ra cơ hội kinh tế bền vững cho người dân. Cây tre đá trở thành biểu tượng cho sự phát triển nông-lâm kết hợp và tương lai xanh của vùng núi. Đặt vấn đề Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên rộng lớn, với nhiều vùng núi đồi và sông suối phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông-lâm nghiệp. Tuy nhiên, nhiều khu vực rừng núi đang đối mặt với tình trạng xói mòn đất, suy thoái rừng tự nhiên và giảm đa dạng sinh học, trong khi đồng bào các dân tộc miền núi vẫn gặp khó khăn trong việc tạo ra sinh kế ổn định. Bên cạnh đó, nhu cầu nguyên liệu xanh, thân thiện với môi trường để phục vụ ngành chế biến, xây dựng và thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng, đặt ra yêu cầu tìm kiếm các giải pháp kinh tế – sinh thái bền vững. Trong bối cảnh đó, cây tre đá nổi lên như một nguồn tài nguyên quý giá, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện địa hình đồi núi, chịu hạn và kháng sâu bệnh. Tre đá không chỉ giúp ổn định đất đai, bảo vệ môi trường, chống xói mòn và cải thiện cảnh quan sinh thái, mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân thông qua các sản phẩm chế biến từ tre như ván ép, đồ thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và các sản phẩm nông-lâm kết hợp. Việc phát triển và mở rộng tre đá tại Nghệ An không chỉ đáp ứng nhu cầu kinh tế – sinh thái mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cộng đồng miền núi. Đây là hướng đi quan trọng, kết hợp bảo tồn môi trường, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững và khai thác tiềm năng kinh tế vùng núi, giúp Nghệ An trở thành địa phương đi đầu trong mô hình nông-lâm kết hợp gắn với sản xuất xanh và bền vững. Vai trò của tre đá – Sức sống xanh cho núi rừng và cộng đồng Nghệ An Tre đá không chỉ là cây nguyên liệu mà còn mang giá trị sinh thái, kinh tế và xã hội quan trọng tại Nghệ An. Về mặt môi trường, tre đá với bộ rễ chắc khỏe, lan rộng giúp ổn định đất, chống xói mòn và sạt lở, đặc biệt trên các sườn đồi và ven bờ sông. Nghiên cứu sinh thái cho thấy tre là loài cây giữ đất hiệu quả, cải thiện chất lượng đất và duy trì đa dạng sinh học, giúp vùng núi Nghệ An bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bền vững (IntechOpen, 2021). Về mặt kinh tế – xã hội, tre đá là nguồn nguyên liệu bền vững, tái sinh nhanh, phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng, ván ép, thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm nông-lâm kết hợp. Thực tế tại Nghệ An, các mô hình như “lũy tre giữ đất biên cương” ở huyện Kỳ Sơn đã chứng minh khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn và cung cấp nguồn thu từ măng tre cho người dân, đồng thời nâng cao sinh kế cho cộng đồng (Báo Nhân Dân, 2022). Tre đá còn tạo ra việc làm và thu nhập ổn định cho người dân. Các dự án phát triển chuỗi giá trị tre – mây do EU phối hợp Oxfam Việt Nam triển khai tại Nghệ An đã giúp hơn 34.000 người dân hưởng lợi từ sản phẩm tre bền vững, hình thành nhiều nhóm sản xuất và chuỗi giá trị sản phẩm, từ nguyên liệu thô đến sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng (VietnamPlus, 2022). Ngoài ra, tre đá còn đóng vai trò trong phòng chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu. Tre trồng dọc bờ sông, đê điều và vùng núi giúp giảm thiệt hại do lũ lụt, xói mòn đất và sạt lở, đồng thời hấp thụ carbon, giải phóng oxy và cải thiện chất lượng không khí. Qua đó, tre đá không chỉ bảo vệ môi trường mà còn góp phần xây dựng thương hiệu nông-lâm sản xanh, bền vững cho Nghệ An. Tóm lại, tre đá là cây đa chức năng, vừa bảo vệ môi trường, vừa phát triển kinh tế và nâng cao sinh kế cộng đồng. Việc phát triển và mở rộng tre đá tại Nghệ An không chỉ tạo ra nguồn sinh kế bền vững mà còn giúp tỉnh xây dựng mô hình nông-lâm kết hợp xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thách thức và giải pháp phát triển tre đá tại Nghệ An Mặc dù tre đá mang lại nhiều lợi ích quan trọng về sinh thái, kinh tế và xã hội, việc phát triển loại cây này tại Nghệ An hiện vẫn phải đối mặt với một số thách thức phức tạp, mang tính hệ thống và lâu dài. Trước hết, quy mô và tổ chức sản xuất còn phân tán, nhỏ lẻ, nhiều diện tích trồng tre chưa được quy hoạch bài bản theo điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường. Thực tế này dẫn đến tình trạng năng suất không đồng đều, khai thác manh mún, khó hình thành chuỗi giá trị bền vững, khiến việc liên kết giữa nông dân, HTX, doanh nghiệp và thị trường gặp khó khăn. Thứ hai, thiếu kiến thức kỹ thuật và công nghệ chế biến tiên tiến là rào cản lớn. Người dân nhiều nơi chưa được đào tạo đầy đủ về chăm sóc tre, phòng chống sâu bệnh, cắt tỉa đúng giai đoạn và thu hoạch hợp lý, dẫn đến chất lượng nguyên liệu không đồng đều, năng suất thấp. Việc chế biến sản phẩm cũng chủ yếu theo phương pháp thủ công, khiến giá trị kinh tế của sản phẩm tre đá bị hạn chế, chưa khai thác tối đa tiềm năng của loại cây này. Hình 2. Hình ảnh người dân khai thác tre tại xã Bồng Khê – cho thấy tre là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ dân miền núi (Nguồn: Báo Nông nghiệp & Môi trường) Thứ ba, thị trường và thương hiệu sản phẩm còn yếu, chưa được tiêu chuẩn hóa và thiếu uy tín xuất khẩu, dẫn đến phần lớn sản phẩm tiêu thụ cục bộ, chưa tận dụng được cơ hội tăng giá trị thông qua thị trường quốc tế. Thứ tư, yếu tố thiên nhiên và biến đổi khí hậu như mưa lũ, hạn hán, gió bão và sâu bệnh vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng tre, đặc biệt ở những vùng núi khó tiếp cận, thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật, làm giảm khả năng khai thác bền vững. Cuối cùng, vấn đề vốn đầu tư và chính sách hỗ trợ còn hạn chế khiến việc mở rộng diện tích và nâng cao năng lực chế biến tre đá gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với các hộ dân nghèo và các vùng xa trung tâm thị trường. Để khắc phục các hạn chế trên, cần triển khai giải pháp đồng bộ, chiến lược và dài hạn, kết hợp nhiều yếu tố về kỹ thuật, thị trường và quản lý. Trước hết, việc xây dựng quy hoạch vùng trồng tre đá tập trung theo điều kiện đất, khí hậu, nguồn nước và nhu cầu thị trường là tối quan trọng. Quy hoạch này nên kết hợp với mô hình HTX, nhóm hộ hoặc liên kết cộng đồng, giúp tối ưu hóa quản lý, chăm sóc, thu hoạch và khai thác, đồng thời tạo ra chuỗi giá trị đồng bộ từ nguyên liệu đến sản phẩm chế biến và thương mại hóa. Thứ hai, cần nâng cao năng lực kỹ thuật và công nghệ chế biến thông qua các chương trình đào tạo bài bản, chuyển giao kỹ thuật trồng, cắt tỉa, phòng chống sâu bệnh và ứng dụng công nghệ hiện đại trong chế biến ván ép, nội thất, thủ công mỹ nghệ và sản phẩm nông-lâm kết hợp. Việc này không chỉ tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, mà còn tối đa hóa giá trị gia tăng, giúp người dân nâng cao thu nhập và ổn định sinh kế. Thứ ba, phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu tre đá Nghệ An là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng xuất khẩu và tăng giá trị sản phẩm. Các hoạt động hội chợ, triển lãm, sàn giao dịch nông-lâm sản, cùng chiến lược marketing, truyền thông và chứng nhận chất lượng sẽ giúp nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của tre đá Nghệ An trên thị trường trong nước và quốc tế. Thứ tư, về mặt phòng chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu, cần thiết lập chuỗi trồng tre bảo vệ bờ sông, đê điều và sườn đồi, kết hợp cây che phủ phụ trợ và ứng dụng hệ thống giám sát sinh trưởng, sâu bệnh bằng công nghệ GIS, cảm biến và dữ liệu AI. Các giải pháp này giúp tối ưu hóa năng suất, giảm thiệt hại thiên tai, nâng cao khả năng khai thác bền vững và đảm bảo sinh kế cho cộng đồng. Thứ năm, chính sách hỗ trợ và đầu tư dài hạn từ chính quyền, doanh nghiệp tư nhân và tổ chức quốc tế là điều cần thiết để cung cấp vốn, công nghệ, đào tạo và nghiên cứu khoa học, giúp mở rộng diện tích trồng tre, phát triển cơ sở chế biến hiện đại và xây dựng mô hình kinh tế - sinh thái đa chức năng. Như vậy, nếu các giải pháp này được triển khai một cách đồng bộ và liên kết vùng, tre đá Nghệ An sẽ trở thành một mô hình nông-lâm kết hợp đa giá trị, vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao sinh kế cộng đồng, đồng thời tạo ra thương hiệu xanh, bền vững cho tỉnh. Đây không chỉ là giải pháp nông-lâm kỹ thuật mà còn là chiến lược phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với xu hướng xanh, bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu, góp phần xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống người dân và khẳng định vị thế Nghệ An như trung tâm tre đá chất lượng cao của miền Trung Việt Nam. Việc phát triển tre đá, nếu được triển khai bài bản, sẽ minh chứng rõ ràng cho mô hình “đa chức năng – sinh kế – sinh thái – thương hiệu”, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ thiên nhiên, khai thác kinh tế và phát triển cộng đồng. Kết luận Tre đá thực sự là sức sống mới của núi rừng Nghệ An, vừa bảo vệ đất rừng, chống xói mòn, thích ứng biến đổi khí hậu, vừa tạo sinh kế bền vững và phát triển chuỗi giá trị sản phẩm tre. Khi được quy hoạch bài bản, chăm sóc kỹ thuật và phát triển thị trường, tre đá sẽ không chỉ làm xanh núi rừng, mà còn trở thành người bạn đồng hành bền vững của cộng đồng, mở ra hướng đi kinh tế – sinh thái – văn hóa đầy tiềm năng cho Nghệ An.
Tài liệu tham khảo [1]. Đỗ Văn Bản, Lê Văn Thành, Lưu Quốc Thành (2005). Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng. Báo cáo tổng kết, Viện KHLN Việt Nam. [2]. Phạm Văn Điển (2006), Kỹ thuật nhân giống cây rừng,NXB Nông nghiệp, Hà Nội. [3]. Phạm Văn Điển (2006), Đề xuất mô hình cấu trúc hợp lý cho rừng nứa xen gỗ tại xã Bình Hẽm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, Dự án nghiên cứu khoa học. [4]. Phạm Văn Điển, Lê Viết Lâm, Bùi Thế Đồi, Trần Thị Thu Hà (2012), Hướng dẫn kỹ thuật thâm canh rừng tre nứa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. [5]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. (2021). Hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và trồng các loại tre thương phẩm. Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp. [6]. StaBOO Thanh Hóa – Nhà máy ván tre ép OSB. (2025). Thông tin dự án và quy trình chế biến tre thành ván ép OSB. Thanh Hóa. [7]. Lê Hồng Thanh, Nguyễn Văn A. (2022). Nghiên cứu sinh trưởng và năng suất tre đá (Bambusa remotiflora) tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 5(2), 45–57. [8]. FAO. (2018). Bamboo: Sustainable Production and Utilization. Food and Agriculture Organization of the United Nations. [9]. Trần Thị Bích Ngọc. (2020). Ứng dụng nông nghiệp xanh và lâm nghiệp bền vững trong phát triển vùng nguyên liệu tre. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 12(3), 22–30. [10]. Nguyễn Văn Bình. (2019). Quy trình chăm sóc và khai thác tre thương phẩm tại các tỉnh miền Trung. Nhà xuất bản Nông nghiệp Việt Nam.20. Quyết định số 295/QĐ-TCLN-KH&HTQT của Tổng cục Lâm nghiệp ngày 28/8/2020 về công nhận tiến bộ kỹ thuật lĩnh vực Lâm nghiệp [11]. Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 13/2/2018 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vùng mây tre trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2025. [12]. Thông tin từ Lãnh đạo Trung tâm KHLN vùng trung tâm Bắc bộ.
Tác giả bài viết: Lê Minh Thanh - Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Nghệ An