PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH SINH KẾ NÔNG NGHIỆP CARBON THẤP Ở CÁC XÃ MIỀN TÂY TỈNH NGHỆ AN

Thứ năm - 28/05/2026 15:40 100 0
Dưới tán rừng Săng Lẻ ở xã Tam Quang, tỉnh Nghệ An
Dưới tán rừng Săng Lẻ ở xã Tam Quang, tỉnh Nghệ An
Miền Tây Nghệ An là khu vực trung du và miền núi có diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp lớn nhất tỉnh, đồng thời cũng là nơi tập trung phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Nền kinh tế khu vực chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp truyền thống như trồng lúa, ngô, sắn, chè, chăn nuôi trâu bò, gia cầm và trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, sinh kế của người dân vẫn còn bấp bênh, năng suất và giá trị gia tăng chưa cao, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn ở mức đáng kể. Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên theo hướng tận thu, phụ thuộc nhiều vào rừng và đất canh tác đã làm suy giảm chất lượng môi trường, đồng thời phát sinh lượng phát thải khí nhà kính đáng kể.
 
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp Việt Nam, Nghệ An nói chung và khu vực miền Tây nói riêng đứng trước những thách thức lớn về hạn hán, lũ quét, sạt lở đất, cùng với sự suy giảm đa dạng sinh học. Những vấn đề này làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của cộng đồng, đặc biệt là các hộ nông dân nghèo phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên tự nhiên. Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải đổi mới mô hình sản xuất, hướng tới các phương thức sinh kế bền vững và thích ứng khí hậu. Một trong những hướng đi phù hợp là phát triển mô hình sinh kế nông nghiệp carbon thấp. Đây là các mô hình sản xuất nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ hoạt động canh tác và chăn nuôi, đồng thời tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và gia tăng hiệu quả kinh tế - xã hội. Một số mô hình tiêu biểu có thể áp dụng tại Nghệ An gồm: nông nghiệp hữu cơ với việc hạn chế phân bón hóa học, tăng cường phân vi sinh; canh tác tuần hoàn nhằm tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hoặc năng lượng sinh học; và trồng rừng gỗ lớn kết hợp chăn nuôi sinh thái, vừa tăng khả năng hấp thụ carbon, vừa tạo nguồn thu ổn định.
Bên cạnh đó, phát triển sinh kế carbon thấp còn gắn liền với các chương trình lớn đang triển khai tại Nghệ An như Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, và định hướng chuyển đổi xanh trong nông nghiệp của cả nước. Việc tích hợp các mô hình này không chỉ góp phần giảm phát thải, mà còn tạo cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản sạch, nâng cao giá trị gia tăng, từ đó cải thiện đời sống người dân địa phương.
Các xã miền Tây Nghệ An là khu vực có diện tích đất nông - lâm nghiệp rộng, độ che phủ rừng cao, song sinh kế của cộng đồng địa phương vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất quy mô nhỏ, năng suất thấp và giá trị gia tăng hạn chế. Sinh kế nông nghiệp tại miền Tây Nghệ An vẫn mang tính quy mô nhỏ, sử dụng nhiều biện pháp truyền thống, phụ thuộc lớn vào tài nguyên thiên nhiên. Dù lúa có năng suất ước cao trong những vụ thuận lợi, nhưng tình trạng thiệt hại do mưa lũ vẫn thường xuyên xảy ra. Chăn nuôi thiếu công nghệ xử lý chất thải và lâm nghiệp chủ yếu gắn với rừng trồng keo, bạch đàn chu kỳ ngắn khiến giá trị sinh kế bị hạn chế, khả năng lưu trữ carbon không cao. Những tồn tại đó làm nổi bật khó khăn trong việc tăng giá trị gia tăng, bảo vệ tài nguyên đất - rừng - nước, đồng thời gia tăng nguy cơ phát thải khí nhà kính (CO₂, CH₄, N₂O). Do vậy, sự chuyển đổi sang các mô hình sinh kế carbon thấp không chỉ là yêu cầu môi trường mà là cần thiết để nâng cao bền vững và sức cạnh tranh của sinh kế nông hộ vùng miền núi này.
Theo Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ về Quy định chi tiết về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ozone và thiết lập lộ trình phát triển thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam và Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ về Quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng và Quyết định số 4024/QĐ-BNNMT ngày 29/9/2025 cuẩ Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Phê duyệt Đề án "Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2050" đã tạo tiền đề cho các mô hình sinh kế nông nghiệp ít phát thải phát triển vững chắc và nhân rộng các mô hình sinh kế nông nghiệp bền vững. Nghệ An cần xác định hướng đi phù hợp với các giải pháp:
Một là, quy hoạch và quản lý tài nguyên: Việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông - lâm nghiệp tại miền Tây Nghệ An cần được định hướng theo nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm phân vùng chức năng rõ ràng giữa đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ, đất trồng rừng gỗ lớn và đất dành cho các mô hình nông - lâm kết hợp. Sự phân vùng hợp lý này không chỉ góp phần tối ưu hóa quỹ đất và hạn chế chồng lấn mục đích sử dụng, mà còn giảm áp lực lên hệ sinh thái rừng - nguồn tài nguyên giữ vai trò trọng yếu trong cân bằng carbon. Bên cạnh đó, việc tăng cường giám sát và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác rừng, đặc biệt là tình trạng phát nương làm rẫy và khai thác gỗ củi tự phát, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ độ che phủ rừng, duy trì chức năng sinh thái và giảm thiểu phát thải khí nhà kính.
Hai là, hỗ trợ kỹ thuật và khoa học - công nghệ: Công tác nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật cần tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như sản xuất nông nghiệp hữu cơ, canh tác tuần hoàn và chăn nuôi sinh thái. Việc ứng dụng công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, thân ngô, phụ phẩm sắn, chất thải chăn nuôi) để sản xuất phân hữu cơ, phân vi sinh hoặc khí sinh học (biogas) vừa góp phần giảm phát thải CH₄ và N₂O, vừa giúp tiết kiệm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả sản xuất hộ gia đình. Ngoài ra, việc triển khai các công cụ kiểm kê và đánh giá phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp sẽ tạo nền tảng khoa học cho việc điều chỉnh quy trình sản xuất, bảo đảm tính minh bạch và khả năng so sánh khi đánh giá hiệu quả giảm phát thải.
Ba là, phát triển kinh tế tuần hoàn và đa dạng hóa sinh kế: Phát triển kinh tế tuần hoàn cần được thúc đẩy ở cả cấp hộ gia đình và hợp tác xã, theo đó phụ phẩm từ một ngành sản xuất trở thành nguyên liệu đầu vào của ngành khác. Cách tiếp cận này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu chất thải, mà còn tăng khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu. Song song với
đó, việc nhân rộng các mô hình nông - lâm kết hợp, chẳng hạn trồng rừng gỗ lớn kết hợp cây dược liệu, cây ăn quả hoặc phát triển chăn nuôi dưới tán rừng, sẽ nâng cao khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập đa dạng và bền vững hơn cho các hộ gia đình miền núi, hạn chế rủi ro từ sự phụ thuộc đơn ngành.

Bốn là, cơ chế chính sách và hỗ trợ tài chính: Để thúc đẩy các mô hình sinh kế carbon thấp, cần hoàn thiện và thực thi các chính sách khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân. Cụ thể, việc mở rộng tín dụng xanh, quỹ phát triển nông nghiệp bền vững, cùng cơ chế hỗ trợ chi phí chứng nhận sản phẩm hữu cơ sẽ giúp tháo gỡ những rào cản về vốn và kỹ thuật cho người dân. Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) cần được duy trì ổn định, đồng thời mở rộng áp dụng đối với các hoạt động nông nghiệp carbon thấp, nhằm tạo động lực kinh tế trực tiếp cho cộng đồng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển sinh kế thích ứng khí hậu.
Năm là, phát triển thị trường và chuỗi giá trị: Một trong những điều kiện tiên quyết để các mô hình sinh kế carbon thấp phát huy hiệu quả là xây dựng thị trường tiêu thụ ổn định và bền vững. Việc phát triển thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và hệ thống truy xuất nguồn gốc cho nông sản carbon thấp ở miền Tây Nghệ An sẽ nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Ngoài ra, cần thúc đẩy liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp - thị trường, đặc biệt thông qua vai trò trung gian của hợp tác xã. Việc mở rộng kênh phân phối thông qua thương mại điện tử và hệ thống bán hàng trực tuyến sẽ giúp sản phẩm tiếp cận tốt hơn với người tiêu dùng đô thị, đồng thời đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh đang gia tăng trong và ngoài nước.
Sáu là, nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực: Sự thành công của các mô hình sinh kế carbon thấp phụ thuộc nhiều vào nhận thức và năng lực thực hành của cộng đồng địa phương. Do đó, cần tổ chức các chương trình tập huấn, nâng cao kiến thức và kỹ năng cho nông dân về nông nghiệp hữu cơ, chăn nuôi sinh thái, quản lý và tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, cũng như kỹ năng tiếp cận thị trường xanh. Các tổ chức xã hội, hợp tác xã và trường học tại địa phương cần đóng vai trò hạt nhân trong việc lan tỏa kiến thức, xây dựng cộng đồng sản xuất có ý thức bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật tại cơ sở có khả năng tư vấn, hỗ trợ trực tiếp cho người dân, đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn ra đồng bộ, bền vững và gắn kết với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn.
Như vậy, phát triển mô hình sinh kế nông nghiệp carbon thấp tại miền Tây Nghệ An không chỉ là hướng đi khả thi nhằm giảm phát thải khí nhà kính, mà còn mở ra cơ hội nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống và gia tăng khả năng thích ứng của cộng đồng địa phương trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Có thể khẳng định rằng, phát triển mô hình sinh kế carbon thấp tại miền Tây Nghệ An là một hướng đi khả thi và tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả lâu dài,  cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương trong xây dựng cơ chế chính sách, cung cấp nguồn lực tài chính, chuyển giao kỹ thuật và phát triển thị trường tiêu thụ. Chỉ khi có sự liên kết đa chiều như vậy, các mô hình sinh kế carbon thấp mới thực sự phát huy vai trò kép: giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao chất lượng đời sống kinh tế - xã hội cho người dân miền núi.

Tác giả bài viết: Đình Ngọc ( Theo Tập san Khoa học và ứng dụng)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây