Nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, tỉnh Nghệ An sở hữu hệ thống giao thông vận tải đồng bộ bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển và đường thủy nội địa. Địa phương này đồng thời nằm trên các trục hành lang kinh tế quan trọng như Hành lang kinh tế Đông - Tây, kết nối trực tiếp thị trường vùng Đông Bắc Thái Lan, Trung và Nam Lào với biển Đông. Nhằm cụ thể hóa các lợi thế địa - kinh tế sẵn có, Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An đã chính thức ban hành Quyết định số 1582/QĐ-UBND vào ngày 21/4/2026 phê duyệt Đề án "Phát triển tỉnh Nghệ An trở thành Trung tâm Logistics vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn 2045". Quyết định này đặt nền móng chiến lược toàn diện để biến Nghệ An thành trung tâm logistics trọng điểm của vùng Bắc Trung Bộ, đóng vai trò cửa ngõ xuất nhập khẩu quốc tế và hạt nhân của mạng lưới vận tải đa phương thức miền Trung.
Chiến lược phát triển hệ thống logistics tỉnh Nghệ An được phân định rõ ràng qua hai giai đoạn then chốt. Giai đoạn đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu hoàn thiện trên 80% hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng dịch vụ logistics cơ bản ; tối ưu hóa quy trình vận hành nhằm giảm từ 15% đến 20% chi phí logistics nội tỉnh , đồng thời nâng tỷ lệ số hóa và ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý vận hành đạt từ 80% trở lên. Tỷ lệ hàng qua Cảng Cửa Lò và Đông Hồi được xử lý qua các trung tâm logistics cũng phải phấn đấu đạt từ 60 - 70%. Tầm nhìn đến năm 2045, dịch vụ logistics sẽ chính thức trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh với hạ tầng kỹ thuật được hoàn thiện đồng bộ và hiện đại hóa 100%. Khi đó, chi phí logistics nội tỉnh được cắt giảm tối thiểu 25% so với hiện trạng , tỷ lệ thuê ngoài (outsourcing) dịch vụ logistics đạt từ 70% trở lên , đi kèm tỷ lệ số hóa toàn diện đạt 100% trong toàn bộ các khâu quản lý, vận hành và kết nối.
Mạng lưới hạ tầng logistics trên địa bàn tỉnh được tổ chức theo mô hình phân cấp logic, tối ưu hóa theo vị trí địa lý và công năng sử dụng. Cụ thể, tỉnh sẽ xây dựng 01 Trung tâm Logistics hạng II mang tầm vóc cấp vùng tại Khu kinh tế Đông Nam (vị trí tại xã Nghi Lộc/Hải Lộc) với quy mô mở rộng từ 50 đến 60 ha vào giai đoạn 2030 - 2045, tập trung xử lý hàng container, hàng rời và hệ thống kho ngoại quan quốc tế. Bên cạnh đó, hệ thống vệ tinh sẽ gồm các Trung tâm Logistics cấp tỉnh được bố trí tại phường Thành Vinh (KCN VSIP Nghệ An), phường Tân Mai (KCN Đông Hồi - Hoàng Mai), xã Nghĩa Đàn (KCN Nghĩa Đàn) và các khu vực cửa khẩu Nậm Cắn, Thanh Thủy, Thông Thụ nhằm thực hiện chức năng gom hàng, phân phối, dịch vụ biên mậu và hỗ trợ các vùng công nghiệp, nông nghiệp tập trung.
Theo Đề án được phê duyệt, tổng nhu cầu kinh phí dự kiến để hoàn thiện hạ tầng và dịch vụ logistics tại Nghệ An đến năm 2030 là khoảng 25.400 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn vốn này được phân bổ rõ rệt nhằm phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công và sức mạnh của nguồn vốn tư nhân. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước chiếm khoảng 4.700 tỷ đồng (tương đương 20%), bao gồm cả nguồn ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, được định hướng chi tiêu công có mục tiêu, tập trung vào hạ tầng kết nối thiết yếu không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Phần lớn nguồn lực còn lại là vốn xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác, chiếm khoảng 20.700 tỷ đồng (tương đương 80%), bao gồm dòng vốn từ các doanh nghiệp trong nước, tập đoàn đa quốc gia, vốn FDI và tài trợ từ các tổ chức quốc tế.
Để khơi thông và thu hút hiệu quả 80% nguồn vốn xã hội hóa này, tỉnh Nghệ An triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp chiến lược. Thứ nhất là đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Tỉnh ưu tiên áp dụng mô hình PPP đối với các dự án hạ tầng lớn, tiêu biểu là hợp phần luồng hàng hải và đê chắn sóng cảng nước sâu Cửa Lò với quy mô vốn dự kiến 3.000 tỷ đồng bằng nguồn vốn đầu tư đối tác công tư, tạo điều kiện cho tàu trọng tải lớn cập cảng an toàn. Thứ hai là chủ động thu hút nhà đầu tư chiến lược quốc tế thông qua việc thay đổi phương thức xúc tiến đầu tư từ "thụ động" sang "chủ động". Tỉnh tổ chức các đoàn nghiên cứu, xúc tiến thương mại trực tiếp tại các quốc gia có ngành logistics phát triển mạnh để mời gọi các tập đoàn lớn đóng vai trò là "nhà đầu tư neo". Song song đó, địa phương liên kết trực tiếp với các hãng tàu lớn trên thế giới để mở các tuyến hải trình cố định qua Nghệ An và tổ chức "Diễn đàn Đầu tư & Logistics Nghệ An" hằng năm để quảng bá tiềm năng, tạo sàn kết nối trực tiếp cho các nhà đầu tư.
Nhóm giải pháp thứ ba tập trung vào các chính sách ưu đãi đặc thù và hỗ trợ tài chính. Về đất đai, tỉnh áp dụng các chính sách hỗ trợ, giảm chi phí thuê đất cho các doanh nghiệp đầu tư kho lạnh, trung tâm phân phối, cảng cạn/ICD. Về thuế và lãi suất, Nghệ An thực hiện miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với danh mục trang thiết bị bốc xếp, hệ thống lưu trữ và truy xuất hàng hóa tự động, thiết bị chuỗi lạnh; đồng thời áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất cho đầu tư kho lạnh nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Để hỗ trợ vận hành, tỉnh áp dụng cơ chế ưu đãi và gói phí theo sản lượng, hỗ trợ phí đóng container tại trung tâm logistics và cảng cạn nhằm thu hút nguồn hàng ổn định. Thứ tư là cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh bằng cách tối giản hóa các rào cản hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số đồng bộ trong quản lý nhà nước, xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung và áp dụng triệt để cơ chế "một cửa" cùng thủ tục hải quan điện tử tại các cửa khẩu đường bộ, cảng cạn, cảng biển để rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa.
Để hiện thực hóa cấu trúc mạng lưới logistics, Nghệ An tập trung đầu tư vào hệ thống hạ tầng cốt lõi thuộc danh mục dự án trọng điểm. Đầu tiên là Cảng nước sâu Cửa Lò (bao gồm cảng container, hậu phương và đường dẫn) với tổng vốn đầu tư xã hội hóa lên đến 10.000 tỷ đồng, kết hợp dự án nâng cấp, mở rộng luồng hàng hải, đê chắn sóng Cảng Cửa Lò trị giá 1.000 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương. Trụ cột hạ tầng biển quan trọng tiếp theo chính là siêu dự án Cảng Đông Hồi (bao gồm cảng tổng hợp và kết nối) với quy mô diện tích lên tới 86 ha và tổng mức vốn đầu tư xã hội hóa dự kiến là 7.400 tỷ đồng. Bên cạnh cảng biển, tỉnh quy hoạch các hành lang logistics kết nối liên vùng thông qua việc nâng cấp tuyến đường ven biển Nghệ An (đoạn qua Khu kinh tế Đông Nam) lên quy mô 6-8 làn xe và đầu tư xây dựng Ga hàng hóa Hưng Nguyên hoặc Nghi Phú (đường sắt) trị giá 500 tỷ đồng nhằm tối ưu hóa phương thức vận tải đa phương thức. Ngoài ra, Dự án Cảng cạn/ICD Hưng Nguyên quy mô 10-20 ha với tổng vốn 400 tỷ đồng cũng sẽ được tập trung xây dựng để phục vụ thông quan nội địa nhanh chóng.
Báo cáo phát triển kinh tế chỉ rõ chuyển đổi số chính là động lực thúc đẩy năng suất và giảm chi phí vận hành ngành logistics. Tỉnh Nghệ An đã giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào các khâu của chuỗi cung ứng logistics dựa trên nền tảng CNTT, AI và Big Data. Nhiều giải pháp công nghệ trọng tâm được đưa vào thực tế như quản lý bãi container bằng AI camera nhằm tự động hóa quy trình giám sát; áp dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học (OCR) tại toàn bộ các trạm kiểm soát cổng vào/ra của trung tâm logistics và cảng cạn để kiểm soát phương tiện tự động. Ngoài ra, xe tự hành dẫn hướng tự động (AGV) được ứng dụng tại khu trung chuyển hàng không lưu kho nhằm tối ưu hóa lưu tốc luân chuyển nội khu.
Hệ thống dữ liệu và điều phối thông minh của tỉnh sẽ tập trung xây dựng “Nền tảng dữ liệu logistics tỉnh Nghệ An” nhằm chia sẻ dữ liệu container, đặt chỗ vận tải, lập lịch xe tải theo thời gian thực. Tỉnh tiến hành xây dựng và vận hành Trung tâm điều hành Logistics số (Smart Logistics Center) đóng vai trò cơ quan đầu não hiển thị trực quan toàn bộ hoạt động với mức đầu tư 200 tỷ đồng; đồng thời phát triển phần mềm ứng dụng di động "Kết nối hàng hóa – phương tiện vận tải" nhằm kết nối trực tiếp chủ hàng và chủ xe, đặt mục tiêu giảm xe chạy rỗng chiều về từ 25 - 40%. Toàn bộ cấu trúc công nghệ này sẽ tích hợp dữ liệu đồng bộ từ lệnh giao hàng điện tử, bản khai hàng điện tử, hải quan điện tử và hệ thống TMS/WMS của các doanh nghiệp 3PL. Lộ trình đặt ra là đến năm 2030, tỷ lệ số hóa tại các trung tâm logistics, cảng cạn trên địa bàn toàn tỉnh phải đạt từ 80% trở lên, hướng tới mục tiêu số hóa toàn diện đạt tỷ lệ 100% vào năm 2045.
Nguồn nhân lực được xác định là nhân tố quyết định tính bền vững của đề án. Theo Quyết định số 1582/QĐ-UBND, chiến lược nhân lực được thiết kế đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa đào tạo tại chỗ và thu hút chuyên gia ngoại tỉnh. Hệ đào tạo nghề tập trung vào các kỹ năng thực hành như vận hành thiết bị, lái xe container, nghiệp vụ hải quan và quy trình quản lý kho lạnh. Hệ đào tạo cao cấp chú trọng vào quản trị logistics và logistics thương mại điện tử nhằm hình thành đội ngũ quản lý có trình độ chuyên môn cao. Mô hình giáo dục này được đổi mới theo hướng liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp, thúc đẩy các trường đại học, cao đẳng trong tỉnh xây dựng giáo trình chuyên biệt phù hợp với yêu cầu thực tiễn địa phương.
Bên cạnh việc xây dựng phòng thí nghiệm "Trung tâm mô phỏng Logistics" để ứng dụng phần mềm mô phỏng dòng container và vận tải đa phương thức phục vụ đào tạo và quy hoạch , tỉnh cũng ban hành các cơ chế thu hút và phát triển hệ sinh thái nhân lực bền vững. Tỉnh áp dụng các chính sách đãi ngộ đặc thù để thu hút lao động có trình độ cao trong lĩnh vực logistics về làm việc tại địa phương. Công tác khảo sát, đánh giá nhu cầu nhân lực logistics được thực hiện theo từng giai đoạn làm cơ sở định hướng quy mô đào tạo phù hợp. Đồng thời, tỉnh định hướng phát triển cụm ngành và hiệp hội logistics Nghệ An/Bắc Trung Bộ để tạo môi trường trao đổi chuyên môn chuyên sâu.
Để đảm bảo kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao diễn ra đúng tiến độ, Ủy ban Nhân dân tỉnh phân công trách nhiệm quản lý nhà nước cụ thể cho từng cơ quan chuyên trách. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Nội vụ và các cơ sở giáo dục, dạy nghề để thúc đẩy đào tạo chất lượng cao, tổ chức các chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn cho người lao động. Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm rà soát, bổ sung quy hoạch các Trung tâm dịch vụ Logistics nông sản như kho lạnh, kho bảo quản, sơ chế, đóng gói tại các vùng nguyên liệu. Sở Nội vụ đóng vai trò thực hiện các khảo sát, đánh giá nhu cầu nhân lực logistics theo từng giai đoạn và tham mưu chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, thu hút lao động có trình độ cao. Kế hoạch này hướng tới mục tiêu đến năm 2030, Nghệ An sẽ sở hữu đội ngũ nhân lực đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, đáp ứng toàn diện lộ trình phát triển của ngành.
Quyết định số 1582/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An không chỉ dừng lại ở một kế hoạch quy hoạch hạ tầng kỹ thuật thông thường, mà là một chiến lược kinh tế toàn diện và có tính toán khoa học. Bằng việc kết hợp đồng bộ giữa việc huy động nguồn lực tài chính xã hội hóa mạnh mẽ, đầu tư đồng bộ các siêu dự án hạ tầng như cảng nước sâu Cửa Lò và cảng tổng hợp Đông Hồi, ứng dụng đột phá công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), và lấy việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm bệ đỡ, Nghệ An đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành Trung tâm Logistics trọng điểm của vùng Bắc Trung Bộ vào năm 2030.
Đề án 1582 được kỳ vọng sẽ tạo bước ngoặt lớn, đưa dịch vụ logistics trở thành động lực thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đưa kinh tế Nghệ An hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.